“Một bầu tâm sự” tâm huyết của cố Giáo sư Viện sĩ Trần Huy Liệu

Cuối năm 2001 Hội khoa học lịch sử Việt Nam và một số tỉnh, thành phố trong cả nước đã làm lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Giáo sư Viện sĩ Trần Huy Liệu (5.11.1901).

Trong nhiều tác phẩm của giáo sư, Một bầu tâm sự có một vị trí đặc biệt. “Một bầu tâm sự” của Trần Huy Liệu được Cường học thư xã – một nhà xuất bản do chính ông thành lập ấn hành cách đây đúng 75 năm. Tuy tên sách có vẻ riêng tư, nhưng thực ra đây là cả một thiên nghị luận chính trị – xã hội vào buổi khởi đầu của ngành báo chí xuất bản mà cũng là của nền văn xuôi chữ quốc ngữ Việt Nam. Được biết Hội sử học Việt Nam có kế hoạch giới thiệu lại cuốn sách này dưới nguyên trạng nội dung và ngôn ngữ của nó.

Ngay khi đọc những trang đầu, dòng đầu của Một bầu tâm sự chúng ta đã có thể nhận ra không mấy khó khăn sự khác biệt về phép dùng từ ngữ, lối hành văn, cách diễn đạt ý tưởng của tác phẩm này so với tiếng Việt hiện đại. Nào là “phong kín rủ là, cao tường kín cổng”, “khoá phòng the đợi người tri kỷ, gảy khúc đờn hỏi khách tri âm”; nào là “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, “tường đông ong bướm đi về mặc ai”. Văn chương như vậy không chỉ khó hiểu cho các nhà Việt Nam học ngoại quốc dù họ thông thạo tiếng Việt hiện đại, mà cũng gây lúng túng cho nhiều người Việt sống từ giữa thế kỷ XX đến nay. Cảm giác ấy càng lúc càng tăng, khi ta đọc từ đầu đến cuối tác phẩm.

Thực ra cùng với thời gian, bất kỳ ngôn ngữ nào cũng biến đổi. Và phong cách ngôn ngữ tác giả cũng tuân theo quy luật ấy. Nhưng biến đổi như thế nào và biến đổi ít hay nhiều là điều tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng thứ tiếng, tùy thuộc vào sự nghiệp cầm bút của từng người. Ngoài nhân tố thời gian ở lĩnh vực này còn có các nhân tố về truyền thống văn hoá và ngôn ngữ, tiếp xúc và giao thoa ngôn ngữ (linguistic interference), tiếp xúc và tiếp biến văn hóa (acculturation). Ở từng tác giả, vấn đề lại còn tùy thuộc vào con đường học vấn, quá trình tích lũy kiến thức.

“Một bầu tâm sự” tâm huyết của cố Giáo sư Viện sĩ Trần Huy Liệu - Ảnh 1

Bàn về sự hình thành văn xuôi tiếng Việt đầu thế kỷ XX trên bình diện chung, có tác giả đã nhận xét: Đó là văn xuôi của thời kỳ phôi thai. Người ta viết những câu ngắn gọn đối chọi nhau gọi là văn biền ngẫu (tôi gạch dưới – B.K.T), hoặc lời văn dài dòng, mà cách biểu hiện ý tưởng, tình cảm cũng lôi thôi, lộn xộn cách viết như vậy tiêu biểu cho văn xuôi những năm 20 của thế kỷ XX (Vũ Ngọc Phan, 1983). Các chặng đường học tập, sự nghiệp văn chương, hoạt động chính trị – xã hội, sự nghiệp khoa học của tác giả Một bầu tâm sự tiêu biểu cho một lớp trí thức Việt Nam vào buổi giao thời lịch sử đi từ xã hội truyền thống bước vào giai đoạn hiện đại.

Trong Hồi ký của mình Trần Huy Liệu viết “Có thể nói rằng đời văn sĩ của tôi khởi đầu từ những bài văn vần”. Điều này có nguyên nhân bắt nguồn ở con đường học vấn (chung) và gia phong (riêng) của tác giả. Xuất thân từ nếp nhà truyền thống, Trần Huy Liệu cũng như bao con em các gia đình nhà nho khác bắt đầu sự học của mình với quyển Tam tự kinh. Đây là loại sách học vỡ lòng, soạn theo từng câu có vần, có nhịp, ngắt đoạn từng ba chữ (âm tiết) một. Chẳng hạn “Nhân chi sơ, tính bản thiện; tính tương cận, tập tương viễn”, nghĩa là “Người sinh ra, ai cũng tốt; theo thói đời (nên) khác tính nhau”.

Từ Tam tự kinh tiến dần sang Tứ thư. Ngũ kinh… người học không những được dạy cho cả một thiên triết lý nhân sinh quan và xã hội quan theo tinh thần Khổng giáo, mà còn được tập văn, bình văn theo mẫu mực Hán ngữ cổ điển – thi, phú, chiếu, chế, biểu. Người theo đòi bút nghiên thời bấy giờ cần phải học làm thơ (thi), bình phẩm thế sự, vịnh phong cảnh (phú), biết cách lập văn bản dâng lên vua (biểu), tập cách viết lời vua ban khen (chê) hay ban bố mệnh lệnh (chiếu). Nét chung về phong cách của các loại văn ấy là dùng thể tứ lục biền ngẫu, mỗi câu ngắt thành hai đoạn 4-6 hoặc 6-4, từng cặp câu có vế đối nhau, nhiều trường họp còn bắt vần ở đoạn trước đoạn sau.

Hẳn chính nhờ đặc điểm ngữ âm này nên tuy văn bản Hán nôm không có dấu câu (punctuation) như văn bản hiện đại, nhưng người đọc chúng nhìn chung vẫn có thể “giải mã” không mấy khó khăn. Thơ văn biền ngẫu thấm sâu vào thói quen hành văn của các trí thức theo nền cựu học. Khi chuyển sang thời kỳ mới viết sách, làm báo họ vẫn còn giữ lại đặc điểm phong cách ấy, nhất là trong giai đoạn đầu. Vì vậy những nhận xét nêu trên của Vũ Ngọc Phan về văn xuôi Việt Nam những năm 20 của thế kỷ XX cũng hoàn toàn đúng với trường hợp của Trần Huy Liệu.

Và con đường học vấn, tích lũy kiến thức của tác giả Một bầu tâm sự cũng có thể giải thích nguyên nhân chung tạo nên phong cách ngôn ngữ của một lớp trí thức từ nền cựu học chuyển sang một giai đoạn tranh đấu mới để vừa gìn giữ vừa phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam. Nhưng ngoài nét chung ấy hành trình trí thức của Trần Huy Liệu còn có những sự kiện đáng ghi khác. Lớn lên trong gia đình trí thức nghèo, chàng thiếu niên họ Trần thừa hưởng của cha, anh không chỉ nề nếp học hành bền bỉ, mà con cả tấm lòng ưu ái với dân, với nước. Những ngày theo cha trên bước đường dạy học mưu sinh cậu khóa.

Trần đã có dịp nghe bàn chuyện những người yêu nước đánh phá đồn Tây, chuyện Việt Nam Quang phục hội dự định khởi nghĩa. Qua người anh “đem tư tưởng mới về nhà”, cậu khóa Trần được đọc những bài ca yêu nước từ hải ngoại gửi về, dùng dạy ở Đông kinh nghĩa thục, đọc cả Việt Nam vọng quốc sử của Phan Bội Châu, các tân thư do Lương Khải Siêu quảng bá. Theo anh đi học, bước vào ngưỡng cửa tân học, cậu thiếu niên Trần càng được mở rộng tầm mắt hơn khi đọc các bản dịch Contrat sociale của J.J. Rousseau, Esprit des lois của Montesquieu bằng chữ nho….

Chính những tri thức vỡ lòng về xã hội, về cách mạng ấy là nguồn vốn đầu đời quý báu để về sau chung đúc nên sự nghiệp trước tác của nhà báo, nhà chính trị, nhà sử học Trần Huy Liệu với các bút danh: Đẩu Nam, Nam Kiều, Côi Vị, Hải Khách, Hải Thu. Một bầu tâm sự thuộc loại trước tác văn xuôi đầu tay của Trần Huy Liệu. Đây vừa là một chuyên luận về chủ đề chính trị – xã hội, vừa như loạt bài viết bàn về một vấn đề thế sự. Nếu những nội dung này được thể hiện dưới hình thức cổ điển, Một bầu tâm sự có thể viết thành một bài phú đặc sắc. Nhưng rõ rệt hơn cả thì đây là lời tâm huyết thốt lên từ đáy lòng của một người ưu thời mẫn thế, cần được trao gửi, được chia sẻ.

“Một bầu tâm sự” tâm huyết của cố Giáo sư Viện sĩ Trần Huy Liệu - Ảnh 2

Vấn đề được nêu lên trong tác phẩm là chung của cả dân tộc, cả đất nước, nhưng cũng là nỗi niềm riêng của Trần Huy Liệu. Vì vậy về đặc điểm ngôn ngữ Một bầu tâm sự một mặt phản ánh cách viết phổ biến của cả thế hệ tác giả vào thời kỳ phôi thai của nền văn xuôi mới Việt Nam. Mặt khác nó cũng in đậm nét dấu ấn riêng của phong cách ngôn ngữ Trần Huy Liệu. Đặc điểm riêng này trước hết được thể hiện ở chỗ Một bầu tâm sự rất phong phú các hình thức ngôn ngữ nói dân gian mà chỉ những trí thức cựu học vừa gắn mình với cuộc sống của đời thường và có ý thức dân chủ về ngôn ngữ mới có được.

Hầu như ở trang sách nào ta cũng bắt gặp các từ, các ngữ như vậy: món hàng rao chào khách, đành phận ngóng cổ trông lên, sợ hãi như gà phải cáo, cho bằng chị bằng em, thế cô sức yếu,… Nói đến hai mặt của người đi học ngày xưa, tác giả minh họa bằng hình anh trong tục ngữ, ca dao. “Ai ơi chớ lấy học trò, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” (sự vất vả của người vợ phải nuôi chồng theo đời sự nghiệp bút nghiên) và “Dài lưng đã có võng đào, tốn vải đã có áo bào vua ban” (hy vọng ở công danh khi đỗ đạt). Tính chất dân chủ của ngôn ngữ còn thể hiện ở những câu tập Kiều, lấy Kiều quen thuộc với người bình dân: “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, “tin xuân luống những rày mong mai chờ”.

Chính tác giả đã chọn phong cách ngôn ngữ bình dị này một cách có ý thức hẳn là vì nó hợp với cách trao đổi tâm tình của người Việt lúc bấy giờ, từ hạng trí thức đến các lớp dân chúng cần lao. Dòng cuối sách ông viết: “Cuốn sách nhỏ này nguyên là một bầu tâm sự…, nên chỉ vụng nghĩ thế nào thì viết ra thế vậy, viết một lần không cần phải chuốt câu văn…, chỉ mong sao chư độc giả lượng cho cái tâm sự mà thôi…”. Tuy nhiên, ngôn ngữ của Một bầu tâm sự lại còn có một mặt khác phản ánh tầm tư tưởng mới, tiến bộ mà tác giả tiếp nhận được qua hành trình trí thức của mình.

Chúng ta có thể thấy điều này qua các thuật ngữ chính trị, triết học mà tác giả dùng: dân chủ, quân chủ, dân quyền, nhà xã hội, văn hóa, chuyên chế, bình dân, nhân dân… Qua những thuật ngữ ấy ông giới thiệu cả những quan điểm, ý tưởng mới cho người đọc trong khi ông chia sẻ với họ các nỗi niềm tâm sự của một người cầm bút yêu nước. Đặc điểm vừa nêu lên ngày càng nổi bật trong quá trình hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội của Trần Huy Liệu, về mặt này ta có thể nói ông thuộc lớp người khơi luồng cho làn gió tư tưởng dân chủ mới thổi vào xã hội Việt Nam trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX.

Với tư cách là người đã góp mặt góp tiếng nói ngay từ thời chữ quốc ngữ đi những bước đầu tiên vào lĩnh vục báo chí, xuất bản, và tiếp theo với tư cách là một chính khách, một nhà khoa học, Trần Huy Liệu cũng là người có công không nhỏ trong tiến trình hình thành và phát triển nền văn xuôi tiếng Việt bằng chữ quốc ngữ. Bởi vậy cho nên không phải ngẫu nhiên mà nhà sử học Nga Petr Tvetsov đã gọi ông là một trong ba con cá voi của ngành sử học Việt Nam.

Nguồn tổng hợp

, , ,