Hồi ký của Nguyễn Quang Sáng về cây cầu khỉ ở quê nhà

Cây cầu khỉ dưới bến nước, bắn qua con rạch trước nhà tôi có từ thời ông cố tôi, từ khi ông về lập nghiệp. Con rạch nhỏ, độ mười sải tay.

Con rạch quanh co uốn khúc nối liền giữa sông Tiền sông Hậu – ông cố tôi đi qua đi lại trên cây cầu khỉ suốt một đời người, rồi đến ông tôi, đến cha tôi, đến anh chị em tôi. Cây cầu khỉ qua bốn đời người! Kênh rạch miền Tây, đâu đâu cũng bắc cầu khỉ. Không biết là có bao nhiêu cầu khỉ. Nhiều đời cầu khỉ là phương tiện đi lại duy nhất của dân miền Tây. Cây cầu khỉ cũng là một nét văn hoá và đã đi vào ca dao:

Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi.

Cầu ván đóng đinh có, nhưng chẳng bao nhiêu, cái chính là cầu tre lắt lẻo. Nói là cầu tre lắt lẻo, nhưng không phải cây cầu nào cũng làm bằng tre. Cầu tre là cách nói mang tính tượng trưng. Vì cầu khỉ được dựng lên bằng đủ loại cây, trong nhà trong xóm, có loại cây nào thì dùng cây ấy: cây dừa, cây so đũa, cây mận, cây vú sữa… Đấy thường là những thân cây già, tắc đường sanh đẻ, không hoa, không trái. Làm cầu khỉ thật đơn giản: Hai bên bờ nước, mỗi bên hai cây cọc cắm tréo, buộc chặt bằng dây choại, dây chì, rồi gác cái thân cây lên, kế đến là cây vịn.

Đi qua rồi đi lại, cứ đi cho đến lúc thân cây bị mục, sắp gãy thì thay. Có cây gì thay cây ấy. Từ đời ông cố tôi đến đời tôi, không biết bao nhiêu lần phải thay cầu, không nhớ nổi. Ngày còn nhỏ muốn qua bên kia rạch, má tôi phải bồng tôi bên nách. Trường làng nằm bên kia rạch, năm lên sáu, từ nhà đến trường, mỗi ngày tôi phải qua cầu ít nhất là bốn lần, muốn qua chợ cũng đi qua cầu, riết rồi quen, quen đến mức không phải đi mà chạy. Qua cầu không phải chỉ đi mình ênh, nhất là các chị các bà, đầu đội thúng, tay xách giỏ, có người vác cả xe đạp trên vai, những bà mẹ đến nhà bảo sanh phải cáng trên võng đi qua cầu.

Hồi ký của Nguyễn Quang Sáng về cây cầu khỉ ở quê nhà - Ảnh 1

Dân thành thị về thăm quê không ung dung như thế. Họ không đi bằng hai chân mà cả bằng hai tay, không phải đi mà là bò, có lẽ từ hình ảnh đó mà cây cầu tre lắt lẻo được đặt tên là cây cầu khỉ! Vất vả nhất là những ngày mưa gió – Có mưa thì có gió, có dông, cây cầu nhoè nhoẹt bùn đất của người đi trước để lại. Qua cầu phải đi chân trần, đi chân xéo, dáng liêu xiêu, không biết té lúc nào. Xóm tôi, chưa có ai chết đuối vì té cầu, vì không người nào mà không biết bơi, nhưng đây đó đã có người bị chết đuối do té cầu, không phải ít, rất thương tâm.

Có một ấn tượng không thể nào quên về cây cầu khỉ. Ấy là đêm hành quân tiến vào Sài Gòn năm Mậu Thân (1968) – Đoàn hành quân đi vào đêm tối trời, trên con đường làng, bước chân âm thầm, nhưng ào ào như cơn bão. Nhưng cơn bão đã phải khựng lại, vì trước mắt không phải là quân địch, mà là cây câu khỉ! Khốn nỗi, cánh quân của tôi là đơn vị miền Bắc mới bổ sung cho chiến trường, là những chiến sĩ mười tám, đôi mươi, họ vượt Trường Sơn, họ băng rừng, qua đèo, qua núi, song chưa biết gì về cầu khỉ. Người chỉ huy là dân Nam bộ, trưởng thành từ chiến trường sông nước, hỏi:

– Các đồng chí có biết lội không?

Lội thì ai chẳng biết, đã lội từ Bắc vô Nam kia mà!

– Có

– Vậy thì ào qua đi!

Chiến sĩ ta hăng hái, ào xuống, đâu có ngờ, nước của con kênh ngập lút đầu. Chiến sĩ ta vừa quẫy vừa đạp và kêu ơi ới. Vậy là đàn ông đàn bà trong xóm lao xuống kéo chiến sĩ ta vào. Đáng lẽ phải hỏi là có biết bơi không mới phải! Miền Bắc lội và bơi khác nhau. Miền Nam lội cũng là bơi, bơi cũng là lội. Trong trường họp này, dùng sai ngôn ngữ có thể chết người. Nếu không có bà con trong xóm, đã có người chết đuối. Vậy là chiến sĩ ta nào súng, nào đạn, nào lương khô, qua cây cầu khỉ bằng hai chân, cả hai quân qua cây cầu khỉ phải mất hơn hai giờ. Qua được cây câu khỉ thì trời rựng sáng. Giờ G, giờ hợp đồng chiến đấu với cánh quân khác đã muộn rồi. Thật tai hại!

Năm mười bốn tuổi, tôi qua cây cầu khỉ theo Vệ Quốc Đoàn. Tôi đi suốt hai cuộc chiến tranh, ba mươi năm. Sau ngày giải phóng, về thăm nhà, tôi vẫn qua cây cầu khỉ. Cha tôi đã gần tám mươi, đoán là tôi đã mất thói quen đi cầu khỉ, ông phải qua cầu dẫn tôi đi. Ba mươi năm giải phóng, tôi có dịp đi nhiều nơi, đi máy bay, đi tàu hoả, tàu thuỷ, ôtô, nhưng khi về thăm quê, tôi cũng qua cây câu khỉ. Cha mẹ tôi mất, chị tôi tuổi tám mươi, con cháu của chị lại dẫn tôi qua cây cầu “lắt lẻo gập ghềnh”. Tôi đi nhiều qua những vùng sâu, vùng xa, đời sống của người dân có khá hơn, nhưng không đủ sức thay cây cầu khỉ, nghĩ mà buồn!

Hồi ký của Nguyễn Quang Sáng về cây cầu khỉ ở quê nhà - Ảnh 2

Tôi có một người bạn nhỏ tuổi, làm phó giám đốc công ty nước ngoài, công ty SYM chuyên sản xuất xe gắn máy Attila, anh cho biết, trong năm 2007 này, công ty của anh sẽ tài trợ cho miền Tây một trăm cây cầu bê tông, thay cho cầu khỉ. Tôi đã cùng anh về một vùng sâu của tỉnh Bến Tre dự lễ cắt băng khánh thành cây cầu bê tông bề ngang 1,2m có lan can, dài hơn 10m bắc qua con rạch nhỏ. Nào lân, nào trống, nào nhạc, dân xóm tụ tập hai bên con rạch, tưng bừng như ngày hội. Thật cảm động khi các cụ già đi qua đi lại trên cây cầu với hai bàn chân trần, đi chân không để cảm nhận cái cảm giác lạ từ gan bàn chân. Học sinh dẫn xe đạp qua cầu, tiếp theo là xe gắn máy rồ máy, đạp ga băng qua cầu.

Có một cây cầu nhỏ mà bà con vui đến như vậy, tôi vừa vui, vừa thấy chạnh lòng! Một buổi chiều trên đường từ Sóc Trăng về Cần Thơ, tôi ngồi trên ôtô chạy cặp theo con kênh, ôtô có máy lạnh, tách biệt cái nắng gay gắt bên ngoài. Trời bỗng sụp tối. Mây khói đen ùn ùn, sấm chớp. Trời đổ mưa như giận dữ. Trên các cây cầu khỉ, học trò đang nối nhau qua cầu, bọn nhỏ đi dưới cơn mưa rát mặt, gập ghềnh, liêu xiêu, nghiêng ngả, vừa thấy thương vừa thấy lo. Một trăm cây cầu chưa đủ. Phải nhiều hơn nữa. Xoá sạch cầu khỉ thì bộ mặt nông thôn mới sáng lên nổi.

Nhưng bao giờ? Tôi hy vọng sẽ không xa. Xây cầu lớn song song với cầu nhỏ. Như vậy cuộc sống mới nhịp nhàng. Cây cầu khỉ sẽ không còn, nhưng cây cầu khỉ vẫn sống trong thi ca, vẫn sống trong tranh ảnh, và sống mãi trong tâm hồn chúng tôi, những người dân miền Tây

Nguồn tổng hợp

, , ,